Theo rà soát của các cơ quan chức năng, trên địa bàn tỉnh Bến Tre (trước sáp nhập) có 46 cơ sở sản xuất than thiêu kết từ gáo dừa, với tổng cộng 409 lò đốt, chủ yếu sử dụng công nghệ truyền thống. Riêng huyện Giồng Trôm chiếm tới 356 lò, tập trung mật độ cao trong khu dân cư, huyện Bình Đại (11 lò) và huyện Châu Thành (3 lò). Quy mô sản xuất lớn nhưng phân tán, xen cài trong khu dân cư đã làm phát sinh lượng khói, bụi và khí thải đáng kể. Kết quả kiểm tra môi trường tại một số khu vực cho thấy, nồng độ khí CO và CO₂ trong khí thải từ các lò than nhiều thời điểm vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân và môi trường sống xung quanh. Qua khảo sát tại xã Tân Hào, tỉnh Vĩnh Long, theo báo cáo gửi Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, hiện có 14 cơ sở sản xuất than thiêu kết với tổng cộng 215 lò đốt, tập trung chủ yếu tại các ấp Quí Điền A, Quí Điền B và Hưng Phú A. Công suất hoạt động bình quân đạt khoảng 2,5 - 3,5 tấn than/lò/chu kỳ 5 ngày, tạo việc làm và thu nhập cho nhiều lao động địa phương.
Như vậy, có thể thấy, đây không phải là hoạt động nhỏ lẻ mà là một ngành sinh kế nông thôn có quy mô đáng kể, đòi hỏi cách tiếp cận quản lý bài bản, khoa học hơn.
Điều trăn trở lớn nhất hiện nay là sinh kế của người dân đang gắn chặt với nguồn không khí gây áp lực lên môi trường sống của họ. Thực tế tại nhiều khu vực cho thấy, khói bụi phát sinh trong quá trình đốt than đã ảnh hưởng đến không khí, nguồn nước mưa sinh hoạt, cây trồng và điều kiện sống lâu dài của người dân. Tại xã Tân Hào, dù các cơ sở đã được yêu cầu đầu tư hệ thống xử lý khói thải, nhưng đến nay mới có 7/14 cơ sở hoàn thành và vận hành thử nghiệm hệ thống xử lý, số còn lại đang trong quá trình lắp đặt. Công tác vận hành gặp nhiều khó khăn do đặc thù quy trình đốt than, nhất là các thời điểm mở nắp lò để tiếp nhiên liệu, khiến khói thải chưa qua xử lý vẫn phát tán ra môi trường. Nếu chỉ dừng ở yêu cầu “lắp đặt” mà thiếu giám sát chặt chẽ về hiệu quả vận hành thì mục tiêu cải thiện môi trường sẽ khó đạt được một cách bền vững.
Để giải quyết căn cơ bài toán trên, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp sau:
Thứ nhất, chuẩn hóa công nghệ và kiểm soát khí thải bằng số liệu. Các mô hình xử lý khói thải đã được ngành chuyên môn khuyến cáo cần được đánh giá định kỳ bằng quan trắc môi trường, lấy kết quả đo nồng độ CO, CO₂ làm căn cứ cho phép tiếp tục hoạt động hay buộc khắc phục, tạm dừng.
Thứ hai, tăng cường giám sát và trách nhiệm quản lý nhà nước. Chính quyền địa phương cần phối hợp các sở, ngành chuyên môn kiểm tra theo chuyên đề, công khai kết quả kiểm tra môi trường, tránh tình trạng giám sát hình thức hoặc chỉ dừng ở cam kết.
Thứ ba, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế theo lộ trình. Đối với các cơ sở không đủ điều kiện đầu tư công nghệ xử lý đạt chuẩn, cần có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm phù hợp, tránh để người dân rơi vào thế bị động khi siết chặt các yêu cầu môi trường.
Thứ tư, gắn bảo vệ môi trường với đầu tư công và nông thôn mới. Ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư công cho hạ tầng môi trường, nước sạch và giao thông nông thôn tại các khu vực chịu tác động nặng, coi đây là điều kiện nền tảng để nâng cao chất lượng sống của người dân.
Thứ năm, nghiên cứu tổ chức lại không gian sản xuất cho phù hợp. Trên cơ sở quy mô thực tế (409 lò tại Bến Tre cũ; 215 lò tại riêng xã Tân Hào), cần xem xét quy hoạch khu sản xuất tập trung, từng bước di dời các cơ sở ra khỏi khu dân cư đông đúc, gắn với hạ tầng xử lý môi trường đồng bộ.
Vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân: Với chức năng giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh tiếp tục theo dõi sát tình hình môi trường tại các làng nghề sản xuất than thiêu kết; trên cơ sở số liệu cụ thể, thực tiễn, kịp thời kiến nghị các giải pháp về cơ chế, chính sách và phân bổ nguồn lực phù hợp.
Phát triển ngành nghề sản xuất ở nông thôn bền vững không chỉ là giữ sinh kế cho hôm nay, mà còn là bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành cho các thế hệ mai sau. Giải quyết hài hòa mối quan hệ này chính là thước đo chất lượng phát triển nông thôn trong giai đoạn mới.
Kim Quyên

Hình 1: Ống khói của lò chưa áp dụng công nghệ hạn chế ô nhiễm mỗi trường, có khói.

Hình 2: Ống khói của lò có áp dụng công nghệ hạn chế khí thải

Hình 3: Một trong những công đoạn sản xuất than gáo dừa