
Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long Trần Văn Lâu chủ trì buổi họp Tổ
Tham gia thảo luận tại Tổ, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Kim Thoa, Tỉnh uỷ viên, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Long đánh giá dự thảo Luật đã có nhiều điểm tiến bộ, đặc biệt trong việc thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Để Luật thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn, đại biểu đề nghị tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện một số nội dung sau theo hướng cụ thể, đồng bộ và khả thi hơn.

ĐBQH Nguyễn Thị Kim Thoa phát biểu thảo luận tại Tổ
Thứ nhất, về giao dịch phải công chứng (Điều 3), dự thảo đã liệt kê cụ thể hơn một số loại giao dịch phải công chứng như mua bán, chuyển nhượng, thế chấp bất động sản (khoản 1 Điều 3). Điều này góp phần tăng tính minh bạch, dễ áp dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, quy định sử dụng cụm từ: “các giao dịch khác có tính chất quan trọng, đòi hỏi mức độ an toàn pháp lý cao”. Đại biểu hiểu quy định này là để linh hoạt, nhưng có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các địa phương, cơ quan và tổ chức hành nghề công chứng. Đề nghị nghiên cứu làm rõ tiêu chí xác định cụm từ này “giao dịch quan trọng” hoặc giao Bộ Tư pháp ban hành danh mục cụ thể kèm theo cơ chế cập nhật minh bạch, thống nhất.
Thứ hai, về hồ sơ và thủ tục công chứng (Điều 42), dự thảo cho phép nộp hồ sơ trực tuyến; cho phép sử dụng dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu quốc gia; không yêu cầu xuất trình lại giấy tờ trong trường hợp đã khai thác được dữ liệu (khoản 7a Điều 42). Đại biểu cho rằng đây là nội dung rất tích cực, góp phần giảm thủ tục hành chính và chi phí cho người dân.
Trong giai đoạn đầu triển khai, đảm bảo tính khả thi, đề nghị làm rõ trách nhiệm của công chứng viên trong việc kiểm tra, đối chiếu thông tin điện tử; bổ sung cơ chế xử lý khi dữ liệu khai thác không đầy đủ hoặc không chính xác.
Thứ ba, về quy định liên quan đến tổ chức hành nghề công chứng (Điều 19, Điều 23), dự thảo đã bổ sung quy định cho phép tổ chức Văn phòng công chứng theo loại hình doanh nghiệp tư nhân tại một số địa bàn đặc thù (khoản 1 Điều 23). Đây là giải pháp phù hợp nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ công chứng tại vùng khó khăn. Đại biểu đồng tình cao và đề nghị có tiêu chí cụ thể, minh bạch trong việc xác định địa bàn áp dụng; đồng thời bảo đảm cơ chế kiểm soát chất lượng dịch vụ công chứng tại các địa bàn.
Thứ tư, về thẩm quyền công chứng giao dịch bất động sản (Điều 44), dự thảo quy định giao dịch bất động sản thuộc thẩm quyền công chứng tại địa phương nơi có tài sản. Đại biểu cho rằng đây là quy định phù hợp, góp phần tăng cường quản lý và hạn chế rủi ro. Đồng thời, dự thảo cũng quy định việc mở rộng phạm vi thực hiện trên toàn quốc gắn với điều kiện cơ sở dữ liệu công chứng được vận hành đồng bộ. Cách tiếp cận này là thận trọng và hợp lý.
Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi, đề nghị làm rõ thêm tiêu chí xác định “đủ điều kiện vận hành”; có cơ chế công bố chính thức thời điểm áp dụng phạm vi toàn quốc.
Thứ năm, về quy định cơ sở dữ liệu công chứng (Điều 66), dự thảo đã bổ sung quy định về cơ sở dữ liệu công chứng, trong đó xác định rõ nội dung dữ liệu, nguyên tắc cập nhật, kết nối và trách nhiệm của các cơ quan liên quan (khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 66). Đây là nội dung quan trọng nhằm nâng cao tính minh bạch, hạn chế rủi ro trong hoạt động công chứng.
Tuy nhiên, tại khoản 5 Điều 2 (điều khoản chuyển tiếp), dự thảo vẫn cho phép tiếp tục sử dụng cơ sở dữ liệu hiện có tại địa phương cho đến khi hệ thống mới hoàn thiện. Quy định này là cần thiết về mặt thực tiễn, nhưng cũng có thể dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ dữ liệu trong giai đoạn đầu triển khai. Đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung lộ trình cụ thể, thời hạn hoàn thành và cơ chế giám sát việc xây dựng, vận hành hệ thống dữ liệu công chứng thống nhất, nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của quy định này.
Trong toàn bộ dự thảo có nhiều nội dung quan trọng vẫn được giao cho Chính phủ quy định chi tiết. Đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, đưa vào Luật các nội dung mang tính nguyên tắc, cốt lõi; hạn chế việc giao quá nhiều nội dung cho văn bản dưới luật nhằm bảo đảm tính ổn định và minh bạch của hệ thống pháp luật.
Tác giả: Sơn Nam