
Quang cảnh thảo luận tổ
Tham gia thảo luận tại Tổ số 12, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long quan tâm góp ý một số nội dung, cụ thể như sau:

Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi phát biểu tại Tổ sáng 20/4/2026
(1) Đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam:
Đại biểu cơ bản thống nhất và đánh giá cao sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là định hướng có tầm nhìn chiến lược và ý nghĩa nhân văn sâu sắc, với các mục tiêu quan trọng như tăng đầu tư cho văn hóa, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới, đồng thời nâng cao vị thế quốc gia về sức mạnh mềm. Đại biểu cũng quan tâm đến nội dung lựa chọn ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam và đề nghị cần được nghiên cứu, thể chế hóa phù hợp trong Nghị quyết, gắn với cơ chế để Nhân dân thực sự được tham gia và thụ hưởng các giá trị văn hóa.
Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, đại biểu góp ý một số nội dung trọng tâm sau:
Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (Điều 1). Đại biểu cơ bản thống nhất với đối tượng áp dụng được quy định tại khoản 2 Điều 1. Tuy nhiên, đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, chỉnh lý lại cách diễn đạt để bảo đảm chặt chẽ, rõ ràng và logic hơn.
Thứ hai, về Ngày Văn hóa Việt Nam (Điều 2). Đại biểu đề nghị thay thế cụm từ “khuyến khích Nhân dân, chủ yếu là thanh niên, thiếu niên” được quy định tại khoản 3 bằng cụm từ “khuyến khích Nhân dân, đặc biệt là thanh niên, thiếu niên”. Cách diễn đạt này bảo đảm đúng tinh thần khuyến khích toàn dân tham gia, đồng thời nhấn mạnh vai trò của thế hệ trẻ trong việc kế thừa và phát triển văn hóa.
Thứ ba, về cơ chế, chính sách thu hút nguồn lực đầu tư phát triển văn hóa (Điều 4). Đại biểu cho rằng nội dung quy định tại khoản 5 Điều 4 chưa thật sự phù hợp với phạm vi điều chỉnh của điều luật. Điều 4 tập trung quy định về cơ chế, chính sách nhằm thu hút nguồn lực đầu tư phát triển văn hóa; tuy nhiên, khoản 5 lại quy định việc Ủy ban nhân dân cấp xã giao cho tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng một số thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở và thực hiện kiểm tra, giám sát. Nội dung này mang tính tổ chức thực hiện và quản lý hoạt động; không phải là cơ chế, chính sách thu hút đầu tư. Vì vậy, đại biểu đề nghị rà soát, bố trí lại nội dung này vào điều khoản phù hợp hơn, bảo đảm đúng phạm vi điều chỉnh và tính logic của dự thảo Nghị quyết.
Thứ tư, về cơ chế ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa (Điều 5). Đại biểu nhận thấy có sự chưa thống nhất về thẩm quyền giữa các khoản trong cùng điều luật. Cụ thể, tại khoản 3, dự thảo Nghị quyết quy định chính quyền địa phương thực hiện thí điểm mô hình đô thị di sản theo tiêu chí di sản văn hóa do Chính phủ quy định được quyết định các cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai, phí, lệ phí trên địa bàn đối với các hoạt động nhằm khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, khoản 5 lại quy định Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách đặc thù. Như vậy, giữa hai khoản trong cùng điều luật có sự chưa thống nhất về thẩm quyền. Vì vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, xác định rõ thẩm quyền của từng cấp để quy định thống nhất, bảo đảm thuận lợi trong tổ chức thực hiện.
Thứ năm, về chính sách đãi ngộ, phát triển tài năng, nhân lực đặc thù trong lĩnh vực văn hóa, thể thao (Điều 7). Đại biểu cơ bản thống nhất và đánh giá cao các quy định của dự thảo Nghị quyết. Nội dung điều luật đã đề cập khá đầy đủ các chính sách ưu tiên phát triển tài năng như chế độ phụ cấp, ưu đãi nghề, cũng như chế độ bồi dưỡng trong luyện tập và biểu diễn. Tuy nhiên, đề nghị nghiên cứu bổ sung chính sách thu hút nguồn nhân lực trẻ tham gia vào lĩnh vực công nghiệp văn hóa, nhất là các ngành mới như thiết kế và nội dung số. Qua đó, tạo nền tảng để thế hệ trẻ tham gia tích cực, góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa.
Thứ sáu, về phát triển công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa, đại biểu đề nghị chú trọng xây dựng hệ sinh thái thị trường văn hóa lành mạnh, minh bạch; tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; hỗ trợ doanh nghiệp văn hóa xây dựng thương hiệu, vươn ra thị trường quốc tế. Đồng thời, cần có cơ chế kiểm soát phù hợp nhằm bảo đảm phát triển đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hạn chế tình trạng thương mại hóa hoặc lai căng quá mức, qua đó góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và thúc đẩy sáng tạo những giá trị mới.
(2) Đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm chế định luật sư công:
Đại biểu thống nhất với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt là Kết luận số 23-KL/TW ngày 07/04/2026 của Bộ Chính trị về Đề án “Nghiên cứu xây dựng chế định luật sư công trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay”.
Thực tiễn cho thấy số lượng các vụ án hành chính ngày càng gia tăng, trong khi tỷ lệ giải quyết còn hạn chế; nhiều vụ việc có tính chất phức tạp, việc triệu tập người bị kiện tham gia tố tụng còn gặp khó khăn. Bên cạnh đó, tỷ lệ án hành chính bị hủy, sửa vẫn ở mức cao, phản ánh những hạn chế trong kiểm soát tính hợp pháp của quyết định hành chính trước khi ban hành, cũng như trong việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước. Ngoài ra, tình hình khiếu nại, tố cáo, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, diễn biến phức tạp, gây áp lực lớn đối với các cơ quan có thẩm quyền. Do đó, việc hình thành đội ngũ luật sư công chuyên nghiệp là cần thiết nhằm tăng cường hỗ trợ pháp lý, tham mưu và tham gia giải quyết kịp thời, đúng quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước.
Trên cơ sở đó, đại biểu tham gia góp ý một số nội dung cụ thể của dự thảo Nghị quyết như sau:
Thứ nhất, về phạm vi công việc của luật sư công (Điều 7). Theo khoản 2, phạm vi hoạt động của luật sư công không bao gồm hoạt động trợ giúp pháp lý và không trùng lặp với hoạt động pháp chế của cơ quan, đơn vị. Đại biểu cho rằng đối với hoạt động trợ giúp pháp lý có thể không trùng lặp; tuy nhiên, đối với hoạt động pháp chế, trên thực tế sẽ có sự giao thoa nhất định do đều liên quan đến tham mưu, xử lý các vấn đề pháp lý cho cơ quan, đơn vị. Vì vậy, cần quy định, phân định rõ ràng phạm vi giữa luật sư công và công tác pháp chế để tránh chồng chéo, đặc biệt trong bối cảnh hai nhóm đối tượng này chịu sự điều chỉnh của các quy định và chế độ, chính sách khác nhau, có sự chênh lệch đáng kể.
Thứ hai, về chế độ, chính sách đối với luật sư công (Điều 10). Dự thảo Nghị quyết quy định ngoài chế độ theo Nghị quyết số 197/2025/QH15, luật sư công khi tham gia giải quyết vụ việc có tính chất pháp lý được hưởng bồi dưỡng theo vụ việc, với mức 0,5 lần mức lương cơ sở cho mỗi buổi làm việc. Đại biểu cho rằng quy định này chưa thật sự rõ ràng, đồng thời đặt ra vấn đề về khả năng cân đối ngân sách và tính công bằng trong thực hiện. Bởi lẽ, các đối tượng này đã được hưởng đầy đủ chế độ tiền lương theo quy định, lại được hưởng chính sách theo Nghị quyết 197, nhưng vẫn được bồi dưỡng thêm theo vụ việc, có thể dẫn đến chi phí phát sinh đáng kể. Bên cạnh đó, cần xem xét sự công bằng so với các đối tượng khác, cũng như việc áp dụng đồng thời các chế độ đối với những hoạt động không thuộc phạm vi của Nghị quyết số 197/2025/QH15. Vì vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, xem xét kỹ quy định này nhằm bảo đảm khả năng cân đối ngân sách và tính công bằng, bình đẳng trong thực hiện.
Thứ ba, về tổ chức thực hiện (Điều 11). Theo khoản 1, việc thu hút, trọng dụng nhân tài để tuyển dụng luật sư, chuyên gia, nhà khoa học, luật gia vào làm việc tại cơ quan, tổ chức theo vị trí việc làm và thực hiện nhiệm vụ của luật sư công cần được quy định rõ hơn về quy trình, tiêu chí tuyển chọn, đánh giá, cũng như cơ chế tiếp nhận. Đồng thời, cần làm rõ phương án xử lý sau khi kết thúc thí điểm, nhất là đối với trường hợp đã được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các vị trí trong hệ thống cán bộ, công chức, viên chức hoặc lực lượng vũ trang, nhằm bảo đảm tính ổn định và thống nhất trong quản lý nhân sự.
Thứ tư, về điều khoản thi hành (Điều 12). Dự thảo quy định thời gian thí điểm là 02 năm. Tuy nhiên, trên thực tế, sau khi Nghị quyết có hiệu lực, việc triển khai cần thời gian để đào tạo, bồi dưỡng hoặc tuyển dụng lực lượng từ bên ngoài vào khu vực nhà nước, có thể mất từ 06 tháng đến 01 năm thì đội ngũ này mới có thể đi vào hoạt động. Vì vậy, với thời gian thí điểm 02 năm, đại biểu băn khoăn liệu có đủ để đánh giá, tổng kết và xem xét nhân rộng mô hình hay không. Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục cân nhắc thời gian thí điểm nhằm bảo đảm có đủ cơ sở đánh giá hiệu quả trong quá trình thực hiện.
(3) Đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương:
Đại biểu tán thành cao với sự cần thiết ban hành Nghị quyết về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương. Đồng Nai có vị trí chiến lược trong trục kết nối quốc gia, liên kết trực tiếp các hành lang phát triển và trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước là Thành phố Hồ Chí Minh với khu vực Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và các vùng kinh tế trọng điểm; đồng thời là địa bàn trọng yếu về quốc phòng – an ninh. Theo Tờ trình của Chính phủ, năm 2025, Đồng Nai đóng góp khoảng 5% GDP cả nước; hệ thống hạ tầng giao thông, công nghiệp, logistics được đầu tư ngày càng đồng bộ, nổi bật là dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Việc ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Trung ương và Bộ Chính trị về đẩy nhanh tốc độ, nâng cao chất lượng đô thị hóa, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV.
Về hồ sơ, trình tự, thủ tục và kết quả lấy ý kiến, đại biểu thống nhất đánh giá bảo đảm theo quy định; tỷ lệ đồng thuận của cử tri và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở mức rất cao. Theo Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, Đồng Nai đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện để thành lập thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị trong quá trình hoàn thiện và triển khai Đề án cần tiếp tục nâng cao chất lượng các tiêu chuẩn đô thị theo hướng bền vững, vượt ngưỡng tối thiểu; đồng thời tăng cường liên kết vùng, tạo hiệu ứng lan tỏa đối với khu vực. Mục tiêu xuyên suốt là nâng cao chất lượng đô thị gắn với cải thiện thực chất đời sống Nhân dân, bảo đảm khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, người dân được thụ hưởng rõ rệt các lợi ích so với trước đây.
(4) Đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài: Các đại biểu Quốc hội đơn vị tỉnh Vĩnh Long đặc biệt quan tâm và tích cực tham gia thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến nhằm tiếp tục hoàn thiện dự thảo theo hướng bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật; đồng thời làm rõ phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc xử lý và cơ chế tổ chức thực hiện nhằm nâng cao tính khả thi trong triển khai thực hiện.
Ngọc Mai