
Các vị Đại biểu Quốc hội tham dự phiên thảo luận
Tham gia thảo luận, đại biểu Thạch Phước Bình, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh Vĩnh Long cho biết, trong tiến trình cải cách chính sách tiền lương, việc điều chỉnh mức lương cơ sở không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật, mà còn là yếu tố quyết định trực tiếp đến đời sống, động lực làm việc và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Theo đại biểu, vấn đề đặt ra hiện nay không còn là “có tăng hay không”, mà là tăng ở mức nào để vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách, đồng thời tạo động lực phát triển khu vực công. Đại biểu đánh giá mức 2,53 triệu đồng/tháng từ 01/7/2026 là một bước tăng hợp lý về mặt kỹ thuật, nhưng chưa đủ mạnh để bảo đảm đời sống cho đa số người làm khu vực công và mức này chỉ tăng khoảng 8,12% so với 2,34 triệu đồng hiện hành.
Đại biểu Thạch Phước Bình đặt ra câu hỏi nếu “mức tăng đó đủ để người khu vực công sống được bằng lương chưa” thì theo đại biểu là chưa, nhất là với người mới vào nghề, người không có nguồn thu bổ sung và người làm việc ở đô thị lớn và tạo ra một khoảng cách đáng kể giữa thu nhập và nhu cầu sống cơ bản. Người lao động khó sống độc lập bằng lương, phải phụ thuộc vào nguồn thu nhập bổ sung, làm giảm động lực và chất lượng cuộc sống. Do đó, có thể khẳng định mức 2,53 triệu đồng chỉ đạt mục tiêu ổn định, chưa đạt mục tiêu bảo đảm đời sống. Mặt khác, từ ngày 01/01/2026, lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp đã lên 5,31 triệu đồng ở vùng I; 4,73 triệu ở vùng II; 4,14 triệu ở vùng III; 3,7 triệu ở vùng IV. Bình quân 4 vùng là khoảng 4,47 triệu đồng/tháng. Bên cạnh đó, nhiều nhóm chi phí thiết yếu tăng nhanh. Vì vậy, dù lương cơ sở tăng 8,12%, là chưa đạt mức an tâm, nhất là khi còn nuôi con, thuê nhà, đi lại, học hành và chăm sóc y tế.

Đại biểu Thạch Phước Bình, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long phát biểu thảo luận
Từ các phân tích thực tiễn về thu nhập và chi phí sống, đại biểu cho biết, mức 2,65 - 2,7 triệu đồng/tháng nổi lên như một phương án hợp lý và khả thi hơn trong giai đoạn hiện nay. Về mặt thu nhập thực tế, với mức này người có hệ số 1,86 có thể đạt khoảng 4,9 - 5 triệu đồng/tháng; người hệ số 2,1 đạt trên 5,5 triệu đồng/tháng. So với mức 2,53 triệu thì thu nhập tăng thêm khoảng 200.000 - 400.000 đồng/tháng. Đây là mức tăng có ý nghĩa rõ rệt đối với nhóm thu nhập thấp và quan trọng hơn, mức này giúp thu hẹp khoảng cách với lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp, giảm áp lực thiếu hụt chi tiêu thiết yếu.
Về mặt đời sống và tâm lý xã hội, mức tăng lên 2,65 - 2,7 triệu đồng, tuy chưa thể bảo đảm hoàn toàn “sống được bằng lương” ở đô thị lớn, nhưng có ý nghĩa quan trọng, giúp người lao động giảm phụ thuộc vào nguồn thu nhập ngoài lương, cải thiện thu nhập, góp phần ổn định tâm lý và nâng cao động lực làm việc. Đặc biệt, trong bối cảnh giá các mặt hàng thiết yếu như nhà ở, y tế, điện nước tăng nhanh hơn CPI chung, thì việc tăng lương ở mức đủ lớn là rất cần thiết. Về mặt cân đối ngân sách, mức 2,65 - 2,7 triệu đồng có ưu điểm không tạo áp lực quá lớn lên ngân sách nhà nước, có thể thực hiện nếu đi kèm tinh giản biên chế, cơ cấu lại chi tiêu công, giảm các khoản chi kém hiệu quả và điểm mấu chốt là đạt được sự cân bằng giữa khả năng chi trả và yêu cầu cải thiện đời sống.
Cũng theo đại biểu Thạch Phước Bình, việc nâng lương cơ sở lên 2,53 triệu đồng là cần thiết nhưng chưa đủ để giải quyết căn bản bài toán đời sống của người làm việc trong khu vực công. Trong điều kiện hiện nay, mức 2,65 - 2,7 triệu đồng/tháng là phương án tối ưu về tổng thể, vừa bảo đảm tính khả thi, vừa tạo được bước cải thiện thực chất, đồng thời mở đường cho các bước cải cách sâu hơn trong thời gian tới.
B.T.Loan