Đặt vấn đề
Trong nhiều thập niên, văn hóa thường được tiếp cận chủ yếu như một lĩnh vực mang tính giá trị tinh thần, phục vụ mục tiêu xây dựng con người và xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, văn hóa ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển, có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, việc làm và sức mạnh mềm quốc gia. Điều này đòi hỏi sự chuyển đổi căn bản trong tư duy chính sách – từ bảo tồn thụ động sang phát triển chủ động.
Dự thảo Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam là một bước đi quan trọng trong tiến trình này. Tuy nhiên, để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, cần phân tích chi tiết từng điều khoản nhằm nhận diện các khoảng trống và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương trình bày Tờ trình về dự thảo Nghị quyết. Nguồn: baochinhphu.vn
Phạm vi điều chỉnh: mở rộng nhưng cần chuẩn hóa pháp lý
Điều 1 của dự thảo thể hiện rõ sự mở rộng phạm vi điều chỉnh khi không chỉ giới hạn trong lãnh thổ quốc gia mà còn bao gồm các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động văn hóa Việt Nam. Đây là bước tiến phù hợp với xu thế hội nhập và quốc tế hóa văn hóa.
Tuy nhiên, việc mở rộng này đặt ra yêu cầu cao về tính minh bạch pháp lý. Trước hết, cần làm rõ mối quan hệ giữa Nghị quyết và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhằm tránh xung đột trong áp dụng. Đồng thời, khái niệm “tham gia phát triển văn hóa Việt Nam” cần được định nghĩa cụ thể, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như nền tảng số, công nghiệp sáng tạo và hoạt động xuyên biên giới.
Ngoài ra, các chính sách đi kèm như thiết lập “Ngày Văn hóa Việt Nam” hay miễn, giảm phí tham quan cần được lượng hóa rõ ràng, bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt là pháp luật lao động và tài chính công.
Nguồn lực: từ cam kết định lượng đến cơ chế phân bổ hiệu quả
Quy định dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa là một điểm đột phá, phản ánh sự thay đổi trong nhận thức về vai trò của văn hóa. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách không chỉ phụ thuộc vào quy mô mà còn phụ thuộc vào cách phân bổ.
Do đó, cần bổ sung nguyên tắc phân bổ ưu tiên cho sáng tạo nội dung và phát triển nhân lực; lộ trình tăng chi theo chu kỳ (ví dụ 5 năm); cơ chế giám sát sử dụng ngân sách.
Bên cạnh đó, chính sách xã hội hóa cần được cụ thể hóa bằng các ưu đãi rõ ràng về thuế, đất đai và tài chính, nhằm thu hút nguồn lực ngoài nhà nước.

Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo Thẩm tra dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam. Nguồn: quochoi.vn
Thu hút đầu tư và ưu đãi: yêu cầu về tính minh bạch và cạnh tranh
Điều 4 và Điều 5 đóng vai trò trung tâm trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa. Các mô hình như khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo hay chuyển đổi công năng nhà máy cũ là những hướng đi phù hợp với xu thế quốc tế.
Tuy nhiên, để tránh rủi ro bị lợi dụng, cần xây dựng bộ tiêu chí định lượng cho các mô hình này; quy định rõ cơ chế sử dụng đất, đặc biệt là thuê dài hạn với ưu đãi; bảo đảm tính tương thích với Luật Đất đai.
Về chính sách thuế, việc áp dụng mức VAT 5% đối với một số hoạt động văn hóa là hợp lý, nhưng cần định nghĩa rõ phạm vi áp dụng để tránh bị lạm dụng. Đồng thời, các ưu đãi thuế cần có lộ trình và mức cụ thể nhằm tăng tính cạnh tranh.
Đối với cơ chế hồi hương cổ vật, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính và thiết lập cơ chế phản ứng nhanh để tham gia thị trường đấu giá quốc tế.
Bảo tồn văn hóa: chuyển từ “bảo tồn tĩnh” sang “bảo tồn động”
Điều 6 thể hiện rõ sự chuyển dịch trong tư duy bảo tồn văn hóa, từ việc lưu giữ sang gắn với phát triển kinh tế và sinh kế cộng đồng. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững.
Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, cần xây dựng tiêu chí xác định “giá trị văn hóa có nguy cơ mai một”; ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn (3D, thực tế ảo); thành lập quỹ và hội đồng chuyên gia để hỗ trợ hồi hương di sản; quy định tỷ lệ tối thiểu nội dung văn hóa trên các phương tiện truyền thông.
Đồng thời, cần gắn chính sách bảo tồn với phát triển khán giả, đặc biệt thông qua giáo dục và truyền thông.
Phát triển nhân lực: từ đào tạo đến hệ sinh thái phát triển tài năng
Điều 7 là một trong những nội dung đột phá nhất, khi thiết lập chính sách toàn diện cho phát triển nhân lực văn hóa.
Các điểm tích cực bao gồm tuyển dụng không qua thi tuyển đối với tài năng xuất sắc; phụ cấp ưu đãi nghề từ 20% đến 60%; chính sách đào tạo lại cho người hết tuổi nghề.
Tuy nhiên, cần xây dựng tiêu chí định lượng rõ ràng để tránh lạm dụng; gắn đào tạo lại với cơ hội việc làm; bổ sung bảo hiểm nghề nghiệp cho ngành rủi ro cao; tăng cường hỗ trợ nghệ nhân và lực lượng giữ di sản.
Đồng thời, cần chú trọng đào tạo nhân lực cho lĩnh vực sáng tạo nội dung số – yếu tố then chốt của công nghiệp văn hóa hiện đại.
Cơ chế tài chính và mở rộng thị trường: thúc đẩy hệ sinh thái văn hóa
Điều 8 với cơ chế “khoán chi đến sản phẩm cuối cùng” là một đột phá trong quản lý tài chính công. Tuy nhiên, cần thiết lập hệ thống tiêu chí đánh giá minh bạch và cơ chế hậu kiểm chặt chẽ.
Điều 9 mở rộng thị trường thông qua quảng bá văn hóa quốc gia; hỗ trợ xuất khẩu sản phẩm văn hóa; thu hút đoàn phim quốc tế.
Đặc biệt, chính sách hoàn trả chi phí cho đoàn phim cần quy định rõ tỷ lệ (20–30%) và thiết lập cơ chế “một cửa” để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Các đại biểu dự phiên họp. Nguồn: quochoi.vn
Chuyển đổi số: nền tảng cho công nghiệp văn hóa hiện đại
Điều 10 đặt chuyển đổi số vào trung tâm chiến lược phát triển văn hóa. Đây là hướng đi tất yếu trong kỷ nguyên số.
Tuy nhiên, cần xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất cho cơ sở dữ liệu; thiết lập cơ chế liên thông dữ liệu; tăng cường bảo vệ bản quyền số; phát triển các mô hình văn hóa số có giá trị thương mại cao (VR/AR); làm rõ chính sách đối với người sáng tạo nội dung số.
Đồng thời, cần cân bằng giữa kiểm soát thông tin và bảo đảm tự do sáng tạo.
Kết luận
Dự thảo Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam đã thể hiện rõ sự chuyển đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phát triển, đặt văn hóa vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Tuy nhiên, để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng: cụ thể hóa các khái niệm và tiêu chí; bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật; thiết lập cơ chế thực thi rõ ràng, minh bạch; gắn chính sách với nguồn lực và cơ chế giám sát.
Chỉ khi đó, văn hóa mới thực sự trở thành một động lực phát triển bền vững, đóng góp hiệu quả vào tăng trưởng kinh tế và nâng cao vị thế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Phước Tiến