Thực tế cho thấy, bên cạnh nhiều kết quả tích cực, vẫn còn tình trạng một số kiến nghị chỉ được trả lời mang tính giải thích, chưa gắn với giải pháp cụ thể; có nội dung kéo dài qua nhiều năm, nhiều nhiệm kỳ nhưng chưa xử lý dứt điểm. Điều này ảnh hưởng đến hiệu lực quản lý nhà nước và niềm tin của cử tri đối với chính quyền và cơ quan dân cử.

Cử tri Hồ Thị Nhân- ấp Cá Lóc, xã Đại An phát biểu ý kiến kiến nghị (Ảnh: Ngọc Xoàn - Báo Vĩnh Long)
Tại Vĩnh Long, các hoạt động tiếp xúc cử tri đã giúp phản ánh kịp thời nhiều vấn đề trên các lĩnh vực kinh tế - ngân sách, giao thông, thủy lợi, đất đai, y tế, giáo dục và an sinh xã hội. Nhiều kiến nghị về nâng cấp các tuyến giao thông nông thôn, nạo vét kênh thủy lợi, xử lý ô nhiễm môi trường đã được các cơ quan chức năng tiếp thu và đưa vào kế hoạch thực hiện, thể hiện tinh thần lắng nghe và trách nhiệm của chính quyền. Tuy nhiên, vẫn còn không ít kiến nghị chậm được giải quyết do khó khăn về nguồn lực, vướng mắc thủ tục hoặc chậm triển khai dự án. Một số nội dung mới dừng ở mức “đang rà soát”, “đưa vào kế hoạch” mà chưa có mốc thời gian cụ thể, gây khó khăn cho giám sát và làm giảm kỳ vọng của cử tri. Đây là vấn đề đặt ra yêu cầu phải tăng cường hơn nữa hiệu quả giám sát của đại biểu dân cử.
Trong bối cảnh đó, việc Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 ngày 24/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân quy định riêng một hệ thống các điều khoản từ Điều 50 đến Điều 55 về giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây được xem là một thiết chế giám sát chuyên biệt nhằm bảo đảm trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trước Nhân dân thông qua cơ quan đại diện là HĐND, trong đó, trách nhiệm giải trình được hiểu là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc cung cấp thông tin, giải thích, làm rõ và chịu trách nhiệm về quyết định, hành vi thực thi công vụ trước cơ quan có thẩm quyền và trước Nhân dân.

Tổ đại biểu số 2 HĐND tỉnh Vĩnh Long khóa XI tiếp xúc cử tri xã Hòa Bình (Ảnh: Tuyết Nga - Báo Vĩnh Long)
Từ hoạt động tiếp nhận kiến nghị đến cơ chế giám sát trách nhiệm giải trình
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Thông qua bầu cử, Nhân dân trao quyền cho các cơ quan dân cử đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình. Tuy nhiên, quyền lực đó không chỉ được thực hiện thông qua việc quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương mà còn phải được thể hiện ở khả năng bảo vệ, theo dõi và giám sát việc giải quyết những vấn đề mà người dân quan tâm.
Xét dưới góc độ pháp lý, kiến nghị của cử tri chính là sự phản ánh trực tiếp những bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn đời sống xã hội. Mỗi kiến nghị không chỉ thể hiện nguyện vọng cá nhân mà còn phản ánh chất lượng, hiệu quả điều hành của bộ máy chính quyền và mức độ đáp ứng của các cơ quan nhà nước đối với yêu cầu của người dân.
Vì vậy, việc giải quyết kiến nghị của cử tri là việc cơ quan nhà nước thực hiện trách nhiệm giải trình trước Nhân dân. Trách nhiệm đó không dừng lại ở việc trả lời bằng văn bản mà phải được thể hiện bằng kết quả xử lý cụ thể, bằng những chuyển biến thực tế trong đời sống kinh tế - xã hội và trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Từ đó cho thấy, giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri là giám sát trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền, xem xét mức độ đáp ứng của bộ máy nhà nước đối với những yêu cầu chính đáng của Nhân dân.
Điểm mới quan trọng của Nghị quyết số 114: Thiết lập cơ chế giám sát toàn diện và khép kín
Các quy định từ Điều 50 đến Điều 55 của Nghị quyết số 114 đã quy định quy trình giám sát hoàn chỉnh, xuyên suốt từ khâu tiếp nhận kiến nghị đến khâu theo dõi việc thực hiện các kết luận, nghị quyết sau giám sát.
Theo đó, Thường trực HĐND không chỉ có trách nhiệm tiếp nhận, tổng hợp và chuyển kiến nghị của cử tri đến cơ quan có thẩm quyền mà còn phải theo dõi, đôn đốc, giám sát quá trình giải quyết và trả lời. Khi cần thiết, Thường trực HĐND có thể tổ chức hoạt động giải trình, thành lập Đoàn giám sát chuyên đề hoặc phân công các Ban HĐND, Tổ đại biểu HĐND tiến hành giám sát. Đây là một bước phát triển quan trọng trong nhận thức về vai trò của HĐND, bảo đảm rằng mỗi kiến nghị của cử tri đều được theo dõi đến cùng, được đánh giá khách quan và được đặt dưới sự giám sát thường xuyên của cơ quan dân cử.
Từ giám sát thủ tục đến giám sát hiệu quả thực chất
Một trong những điểm nổi bật nhất của Nghị quyết số 114 là sự thay đổi căn bản trong phương thức đánh giá kết quả các ý kiến nguyện vọng của cử tri. Nghị quyết số 114 quy định HĐND, Thường trực HĐND không chỉ xem xét việc cơ quan có thẩm quyền đã trả lời hay chưa mà còn đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập, nguyên nhân của hạn chế, trách nhiệm của các chủ thể liên quan và giải pháp khắc phục trong thời gian tới. Đây là sự thay đổi có ý nghĩa sâu sắc, phù hợp với chủ trương lấy kết quả phục vụ người dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của bộ máy công quyền.
Thiết lập mạng lưới giám sát nhiều cấp, nhiều chủ thể
Một điểm mới của Nghị quyết số 114 là việc xác lập rõ trách nhiệm của từng chủ thể. Các Ban HĐND được giao nhiệm vụ chủ trì đánh giá kết quả giải quyết kiến nghị theo lĩnh vực phụ trách; được quyền yêu cầu báo cáo, giải trình, tổ chức khảo sát, xác minh và tham mưu xây dựng kết luận hoặc nghị quyết giám sát. Tổ đại biểu HĐND được giao trách nhiệm trực tiếp xem xét, đánh giá kết quả giải quyết các kiến nghị phát sinh trên địa bàn ứng cử; đồng thời tham gia giám sát theo phân công của Thường trực HĐND. Đặc biệt, mỗi đại biểu HĐND cũng được xác định là một chủ thể giám sát độc lập. Đại biểu có quyền xem xét, đánh giá kết quả giải quyết các kiến nghị mà mình tiếp nhận thông qua hoạt động tiếp xúc cử tri; yêu cầu cung cấp thông tin, xác minh và chịu trách nhiệm về nhận định, kiến nghị của mình. Đối với đại biểu HĐND, cơ chế này cũng đặt ra yêu cầu phải theo dõi đến cùng các kiến nghị mà mình tiếp nhận, chủ động giám sát kết quả giải quyết và phản ánh trung thực ý kiến cử tri đến cơ quan có thẩm quyền.
Việc xác định trách nhiệm này tạo thành một mạng lưới giám sát nhiều tầng nấc, bảo đảm không có khoảng trống trách nhiệm và phát huy tối đa vai trò của từng đại biểu dân cử trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của cử tri.
Nâng cao hiệu lực giám sát thông qua cơ chế kết luận và nghị quyết
Nghị quyết số 114 còn gắn hoạt động giám sát với các công cụ pháp lý cụ thể. Theo đó, Thường trực HĐND có thể ban hành kết luận về việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri. Trường hợp cần thiết, HĐND có thể xem xét và ban hành nghị quyết về việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri. Các kết luận và nghị quyết đều phải xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chịu sự giám sát, giải pháp khắc phục hạn chế, thời hạn thực hiện và trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo căn cứ pháp lý để theo dõi, kiểm tra và yêu cầu thực hiện trong thực tiễn. Qua đó, hoạt động giám sát được khép kín từ phát hiện vấn đề, đánh giá trách nhiệm đến đôn đốc và kiểm tra việc khắc phục.
Góp phần tăng cường kiểm soát quyền lực và củng cố niềm tin của Nhân dân
Cơ chế giám sát kiến nghị cử tri có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước. Khi việc giải quyết kiến nghị được giám sát chặt chẽ, các cơ quan buộc phải nâng cao trách nhiệm, hạn chế tình trạng chậm trễ hoặc né tránh.
Đồng thời, đây cũng là kênh kiểm soát quyền lực hiệu quả, xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội. Những bất cập trong thực thi chính sách được phát hiện kịp thời và có cơ sở điều chỉnh.
Quan trọng hơn, khi kiến nghị của cử tri được theo dõi đến cùng và mang lại kết quả cụ thể, niềm tin của Nhân dân đối với cơ quan dân cử và chính quyền địa phương sẽ được củng cố và tăng cường.
Kết luận
Các quy định từ Điều 50 đến Điều 55 của Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 đã tạo ra bước phát triển quan trọng trong hoạt động giám sát của HĐND, khi lần đầu tiên thiết lập một cơ chế giám sát chuyên biệt đối với việc các nội dung cử tri phản ánh.
Có thể thấy rõ sự chuyển đổi từ giám sát hình thức sang giám sát thực chất; từ tiếp nhận ý kiến sang theo dõi kết quả; từ phản hồi hành chính sang trách nhiệm giải trình gắn với hiệu quả thực tế.
Với những đổi mới đó, cơ chế giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND, tăng cường trách nhiệm của bộ máy công quyền và bảo đảm tốt hơn quyền làm chủ của Nhân dân ở địa phương.
Mỹ Xuyên