
Tỉnh ủy Vĩnh Long tham gia Hội nghị khảo sát trực tuyến sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp đối với các địa phương do Ban Tổ chức Trung ương tổ chức vào ngày 12/6/2026 (Ảnh: Lê Sơn/VGP)
Từ ngày 01/7/2025, Vĩnh Long bước vào một giai đoạn rất mới. Một tỉnh mới được hình thành trên vùng đất rộng hơn 6.200 km², với hơn 3,38 triệu dân, 124 xã, phường, trải dài từ vùng cù lao, ven sông đến vùng biển, vùng có đông đồng bào Khmer, đồng bào có đạo. Đó là một không gian phát triển rộng lớn hơn, nhiều tiềm năng hơn, nhưng cũng nhiều áp lực hơn đối với công tác lãnh đạo, quản lý và phục vụ Nhân dân.
Trong bối cảnh ấy, mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện sắp xếp lại đơn vị hành chính. Đó là một sự thay đổi lớn trong phương thức vận hành: cấp tỉnh phải điều hành trực tiếp, sâu sát hơn; cấp xã phải đảm nhận nhiều việc hơn, gần dân hơn; còn người dân thì kỳ vọng bộ máy mới phải nhanh hơn, rõ hơn, thuận tiện hơn.
Từ ba tỉnh cũ đến một Vĩnh Long mới
Trước khi sáp nhập, Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh là ba địa phương có bề dày lịch sử, văn hóa, truyền thống cách mạng và đặc điểm phát triển riêng. Mỗi nơi có một hệ thống tổ chức bộ máy riêng, một nhịp vận hành riêng, một không gian kinh tế - xã hội riêng. Khi hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Long mới, điều đặt ra không chỉ là “ghép” ba địa phương lại với nhau, mà là làm sao để tạo nên một chỉnh thể thống nhất, thông suốt và đủ sức phục vụ người dân trên một địa bàn rộng lớn hơn trước rất nhiều.

UBND tỉnh Vĩnh Long tổ chức hội nghị sơ kết 1 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp ngày 20/5/2026 (Ảnh: Phạm Minh Tuấn - TTXVN)
Trước sắp xếp, hệ thống chính trị của ba tỉnh có 40 đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy, 1.499 tổ chức cơ sở đảng, hơn 6.100 chi bộ trực thuộc và trên 152.000 đảng viên. Sau sáp nhập, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long được kiện toàn với 128 đảng bộ trực thuộc, trong đó có 124 đảng bộ xã, phường và 4 đảng bộ cấp trên trực tiếp tổ chức cơ sở đảng. Những con số ấy cho thấy quy mô tổ chức rất lớn, đòi hỏi sự lãnh đạo, điều hành vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt.
Điều đáng ghi nhận là trong quá trình chuyển đổi ấy, tỉnh đã giữ được sự ổn định chung. Tư tưởng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân cơ bản ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; các hoạt động quản lý nhà nước, giải quyết công việc cho người dân, doanh nghiệp không bị đứt gãy. Với một cuộc sắp xếp lớn như vậy, sự ổn định chính là kết quả rất quan trọng.
Bộ máy gọn hơn, đường đi của công việc ngắn hơn
Một trong những dấu ấn rõ nhất sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp là bộ máy được tinh gọn mạnh mẽ. Ở cấp tỉnh, Vĩnh Long giảm 10 cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp ủy; giảm 40 cơ quan chuyên môn và 421 đơn vị sự nghiệp công lập. Cấp huyện kết thúc hoạt động với 26 đơn vị hành chính cấp huyện và 323 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện. Ở cấp xã, số đơn vị hành chính giảm 230 đơn vị, tương đương 64,97%.

Người dân hài lòng khi đến giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Trường Long Hòa (Ảnh: Bá Thi)
Nhìn từ góc độ tổ chức, đây là một sự thay đổi rất lớn. Nhưng nhìn từ đời sống hằng ngày, điều người dân quan tâm hơn là: việc của mình có được giải quyết nhanh hơn không, thủ tục có bớt rườm rà không, cán bộ có gần dân hơn không, chính quyền có lắng nghe hơn không.
Chính ở điểm này, mô hình hai cấp bắt đầu cho thấy ý nghĩa thực tế. Khi không còn cấp huyện, nhiều chỉ đạo từ tỉnh được truyền trực tiếp xuống xã, phường. Những phản ánh từ cơ sở cũng có điều kiện đi nhanh hơn đến cấp có thẩm quyền. Đường đi của công việc ngắn hơn, trách nhiệm của từng cấp cũng rõ hơn. Cấp xã không còn chỉ là nơi “tiếp nhận rồi chuyển lên”, mà trở thành cấp trực tiếp xử lý hầu hết vấn đề của người dân.
Tất nhiên, sự thay đổi ấy không dễ dàng. Một cán bộ xã hôm nay không chỉ làm những việc quen thuộc như trước, mà phải tiếp nhận thêm nhiều nhiệm vụ chuyên sâu hơn về đất đai, xây dựng, tài chính, nội vụ, lao động, chính sách xã hội. Nhưng cũng chính từ áp lực đó, vai trò của chính quyền cơ sở được nhìn nhận rõ hơn: đây là nơi gần dân nhất, hiểu dân nhất và cũng là nơi người dân nhìn vào để đánh giá hiệu quả của bộ máy mới.
Cải cách hành chính: thước đo từ sự hài lòng của người dân

Lực lượng Công an cơ sở giải quyết các thủ tục hành chính cho người dân (Ảnh: An Nhiên - Cổng Thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long)
Sau một năm, cải cách hành chính là lĩnh vực để lại nhiều tín hiệu tích cực. Vĩnh Long đã rà soát, điều chỉnh quy trình, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công, triển khai giải quyết thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính. Điều này có ý nghĩa rất thiết thực, nhất là trong một tỉnh mới có địa bàn rộng, dân cư phân bố không đồng đều, có nhiều vùng nông thôn, vùng ven biển, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Kết quả nổi bật là đến ngày 31/5/2026, Vĩnh Long đạt 97,15/100 điểm trong Bộ chỉ số phục vụ người dân và doanh nghiệp, xếp loại xuất sắc và đứng thứ nhất trong 34 tỉnh, thành phố. Đây không chỉ là một thứ hạng đáng khích lệ, mà còn phản ánh nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị trong việc giữ nhịp phục vụ sau sáp nhập.
Tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn ở cấp cơ sở đạt trên 96%; thời gian giải quyết thủ tục hành chính bình quân giảm trên 20%. Với người dân, những con số ấy có thể được cảm nhận rất cụ thể: ít phải đi lại hơn, ít chờ đợi hơn, ít phải hỏi nhiều nơi hơn. Với doanh nghiệp, đó là chi phí thời gian được tiết kiệm, là sự rõ ràng hơn trong tiếp cận thủ tục, là niềm tin tốt hơn vào môi trường hành chính địa phương.
Trong bối cảnh nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước cùng thực hiện sắp xếp tổ chức, tinh gọn bộ máy, kết quả của Vĩnh Long cho thấy sự thích ứng khá nhanh. Nếu các đô thị lớn có lợi thế về hạ tầng, nhân lực và mức độ số hóa, thì Vĩnh Long lại có thách thức riêng: địa bàn rộng, nhiều vùng nông thôn, điều kiện phát triển giữa các khu vực chưa đồng đều. Vì vậy, việc vươn lên nhóm dẫn đầu về phục vụ người dân và doanh nghiệp là một điểm sáng đáng ghi nhận.
Chuyển đổi số không còn là chuyện xa
Một điểm đáng chú ý khác là chuyển đổi số đã được tỉnh triển khai khá mạnh trong quá trình vận hành mô hình mới. Tỉnh đã hợp nhất, kết nối các nền tảng dữ liệu, vận hành Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh; đưa vào sử dụng ứng dụng Smart Vĩnh Long để tiếp nhận phản ánh hiện trường; triển khai nền tảng “Bình dân học vụ số”; tích hợp ChatBox AI hỗ trợ tra cứu quy định, thủ tục hành chính.
Nếu nhìn từ góc độ quản lý, chuyển đổi số giúp cấp tỉnh điều hành bao quát hơn trên một địa bàn rộng. Nhưng nếu nhìn từ phía người dân, chuyển đổi số chỉ thật sự có ý nghĩa khi nó giúp người dân dễ tiếp cận chính quyền hơn. Một phản ánh hiện trường được gửi nhanh hơn; một thủ tục được tra cứu rõ hơn; một hồ sơ được theo dõi minh bạch hơn; một người dân ở xa trung tâm vẫn có thể tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn - đó mới là giá trị cụ thể của chuyển đổi số.
Đặc biệt, việc tỉnh quan tâm đến truyền thông cơ sở, hệ thống truyền thanh, nền tảng số và kênh truyền hình tiếng dân tộc cho thấy sự nhạy bén trong phục vụ một cộng đồng dân cư đa dạng. Với hơn 373.000 đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó chủ yếu là đồng bào Khmer, việc đưa thông tin đến người dân bằng hình thức phù hợp có ý nghĩa không chỉ về hành chính, mà còn về chính trị, văn hóa và niềm tin xã hội.

Khi cấp xã gánh thêm việc lớn
Bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn một năm qua cũng cho thấy không ít khó khăn. Cấp xã là nơi chịu áp lực rõ nhất. Khi cấp huyện kết thúc hoạt động, nhiều nhiệm vụ được chuyển về xã, phường (1.111 nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền của Trung ương và của tỉnh, gồm 1.060 nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền của Trung ương khi kết thúc cấp huyện và 51 nhiệm vụ được phân cấp, ủy quyền của tỉnh). Khối lượng công việc tăng nhanh, trong khi đội ngũ cán bộ, công chức có nơi còn thiếu, có nơi chưa đồng đều về trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng số.
Có thể hình dung, trước đây một số việc người dân phải qua cấp huyện, nay được đưa về xã để giải quyết gần hơn. Chủ trương này đúng và cần thiết. Nhưng để xã làm tốt, cán bộ cơ sở phải được đào tạo, phải có đủ công cụ, đủ dữ liệu, đủ thẩm quyền và đủ nguồn lực. Nếu không, “gần dân hơn” rất dễ đi kèm với “quá tải hơn”.
Một số lĩnh vực như đất đai, xây dựng, tài chính, nội vụ, tư pháp, lao động - thương binh và xã hội là những lĩnh vực cần chuyên môn sâu, dễ phát sinh hồ sơ phức tạp, dễ liên quan đến quyền lợi trực tiếp của người dân. Vì vậy, cấp xã cần được hỗ trợ thường xuyên từ các sở, ngành cấp tỉnh, không chỉ bằng văn bản hướng dẫn, mà bằng các tổ công tác, đường dây nghiệp vụ, đào tạo tại chỗ và cơ chế xử lý vướng mắc nhanh.
Trụ sở dôi dư: không để tài sản công bị lãng phí
Sau sáp nhập, câu chuyện trụ sở, nhà đất công dôi dư cũng là một bài toán lớn. Toàn tỉnh có 342 cơ sở nhà, đất dôi dư, không còn nhu cầu sử dụng đã được UBND tỉnh quyết định thu hồi và phê duyệt phương án xử lý. Trong đó, 52 cơ sở được giao Trung tâm phát triển quỹ đất quản lý, khai thác; 234 cơ sở giao Trung tâm quản lý và phát triển nhà; 56 cơ sở được giao, điều chuyển cho các cơ quan, tổ chức để làm trụ sở làm việc, nhà văn hóa ấp hoặc cơ sở giáo dục.
Cách xử lý của tỉnh cho thấy quan điểm khá rõ: tài sản công sau sắp xếp phải được quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả; không để bỏ hoang, xuống cấp, gây lãng phí. Một số cơ sở được đưa vào khai thác làm nhà ở công vụ, một số cơ sở được xem xét cho thuê, một số cơ sở khác được định hướng chuyển đổi công năng phục vụ y tế, giáo dục, văn hóa và các mục đích công cộng.
Tuy nhiên, đây là việc không thể giải quyết trong một sớm một chiều. Nhiều trụ sở được xây dựng theo mô hình cũ, diện tích hoặc vị trí không còn phù hợp. Có nơi cơ sở vật chất xuống cấp, cần kinh phí sửa chữa. Có nơi thiếu hồ sơ pháp lý, vướng quy hoạch, thậm chí có tình trạng tranh chấp, lấn chiếm. Vì vậy, xử lý tài sản công sau sáp nhập phải vừa khẩn trương, vừa thận trọng, công khai, minh bạch, đúng quy định.
Những điều cần tiếp tục tháo gỡ
Sau một năm vận hành, có thể thấy mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Vĩnh Long đã đi vào nền nếp, nhưng để vận hành tốt hơn, vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ.
Trước hết là vấn đề con người. Bộ máy có thể tinh gọn, nhưng chất lượng phục vụ phụ thuộc rất lớn vào cán bộ. Cán bộ cơ sở hôm nay phải làm việc trong môi trường mới, áp lực mới, yêu cầu mới. Vì vậy, cần tiếp tục đào tạo lại, bồi dưỡng chuyên sâu, nhất là các kỹ năng về chuyển đổi số, xử lý thủ tục hành chính, tiếp công dân, giải quyết phản ánh, kiến nghị và quản lý địa bàn rộng.
Thứ hai là vấn đề phân cấp gắn với nguồn lực. Giao việc cho xã là cần thiết, nhưng giao việc phải đi cùng con người, kinh phí, trang thiết bị, dữ liệu và hướng dẫn nghiệp vụ. Không nên để cấp xã trở thành nơi “nhận thêm việc” nhưng thiếu điều kiện thực hiện. Các sở, ngành cấp tỉnh cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý trực tiếp sang hỗ trợ, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và tháo gỡ khó khăn cho cơ sở.
Thứ ba là hạ tầng số. Muốn mô hình hai cấp vận hành thông suốt, dữ liệu phải thông suốt. Hồ sơ phải được số hóa, phần mềm phải liên thông, cán bộ phải sử dụng thành thạo, người dân phải dễ tiếp cận. Cần quan tâm nhiều hơn đến các xã vùng sâu, vùng ven biển, vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số để không tạo ra khoảng cách mới trong tiếp cận dịch vụ công.
Thứ tư là cơ chế, chính sách. Một số quy định về biên chế, vị trí việc làm, chức năng nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp cấp xã, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ cơ sở cần tiếp tục được Trung ương hướng dẫn, hoàn thiện cho phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp. Đây là vấn đề không chỉ riêng Vĩnh Long gặp phải, mà nhiều địa phương cũng đang cần một khung pháp lý ổn định, rõ ràng hơn.
Kiến nghị để mô hình vận hành tốt hơn
Từ thực tiễn vận hành, nhiều ý kiến cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về tổ chức bộ máy, biên chế, vị trí việc làm và chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đặc biệt, cần có cơ chế phù hợp cho những xã có địa bàn rộng, dân số đông, điều kiện đi lại khó khăn, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo.
Cần sớm có hướng dẫn cụ thể về tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập cấp xã như trạm y tế, trung tâm dịch vụ sự nghiệp công, trung tâm phục vụ hành chính công. Đây là những thiết chế rất gần dân, liên quan trực tiếp đến sức khỏe, đời sống, sản xuất và sinh hoạt hằng ngày của người dân.
Đối với tỉnh Vĩnh Long, cần tiếp tục rà soát từng nhóm nhiệm vụ đã phân cấp cho xã để đánh giá việc nào làm tốt, việc nào còn vướng, việc nào cần bổ sung nhân lực hoặc điều chỉnh quy trình. Đồng thời, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả vận hành mô hình hai cấp không chỉ dựa trên số lượng đầu mối giảm, mà phải dựa trên chất lượng phục vụ người dân, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, mức độ hài lòng, khả năng xử lý vấn đề phát sinh và tinh thần trách nhiệm của cán bộ.
Một năm nhìn lại: niềm tin đến từ những thay đổi cụ thể
Một năm chưa phải là dài đối với một cuộc sắp xếp lớn như sáp nhập tỉnh và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Nhưng một năm cũng đủ để nhìn thấy những chuyển động đầu tiên: bộ máy gọn hơn, chỉ đạo nhanh hơn, thủ tục hành chính thuận lợi hơn, chuyển đổi số rõ nét hơn và cấp xã trở thành nơi gánh vác nhiều trọng trách hơn.
Điều đáng quý là trong quá trình ấy, Vĩnh Long giữ được sự ổn định, tạo được sự đồng thuận và từng bước khẳng định hiệu quả của mô hình mới. Những khó khăn còn đó, nhất là áp lực đối với cơ sở, sự chưa đồng bộ về hạ tầng, nhân lực và tài sản công sau sắp xếp. Nhưng khó khăn ấy cũng là điều dễ hiểu trong một giai đoạn chuyển đổi lớn.
Quan trọng hơn, chính từ thực tiễn một năm qua, Vĩnh Long có thêm cơ sở để điều chỉnh, hoàn thiện và làm tốt hơn. Khi bộ máy mới biết lắng nghe dân, biết tháo gỡ từ cơ sở, biết lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo, thì mô hình chính quyền hai cấp không chỉ là một thay đổi về tổ chức hành chính, mà sẽ trở thành động lực để xây dựng một nền hành chính gần dân, sát dân và vì dân hơn.
Từ vùng đất hợp lưu của sông Tiền, sông Hậu đến những xã ven biển, vùng đồng bào Khmer, vùng nông thôn mới, Vĩnh Long đang bước tiếp trên hành trình mới. Hành trình ấy chắc chắn còn nhiều việc phải làm, nhưng sau một năm “vừa chạy vừa hoàn thiện”, thực tiễn một năm vận hành cho thấy bộ máy mới từng bước đi vào ổn định: gọn hơn trong tổ chức, gần hơn với Nhân dân và quyết liệt hơn trong phục vụ phát triển.
KIẾN QUỐC